Chủ nghĩa lập thể, còn gọi là trường phái lập thể, (Cubism) là một trường phái hội họa tạo ra cuộc cách mạng về hội họa và điêu khắc châu Âu vào đầu thế kỷ 20. Trong tác phẩm của họa sĩ lập thể, đối tượng được mổ xẻ, phân tích và được kết hợp lại trong một hình thức trừu tượng.
Những năm đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa Lập thể, (còn gọi là trường phái Lập thể) được sáng lập bởi hai danh họa nổi tiếng Pablo Picasso và Georges Braque. Tuy không tạo được tiếng vang lớn, chưa có một quá trình phát triển lâu dài nhưng nó đã tạo ra nguồn cảm hứng lớn cho nhiều nghệ sĩ, đem đến những đóng góp không nhỏ cho nền hội họa thế giới.
Sự xuất hiện của phái Lập thể
Chủ nghĩa lập thể do Georges Braque và Pablo Picasso khởi xướng năm 1906 tại khu Montmartre của kinh đô ánh sáng Paris, Pháp. Họ gặp nhau năm 1907 và làm việc cùng nhau cho đến năm 1914 khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu.
Nhà phê bình hội họa người Pháp Louis Vauxcelles sử dụng danh từ “lập thể” lần đầu tiên để ngụ ý rằng đó là những hình lập phương kỳ quặc vào năm 1908. Sau đó danh từ này được hai nhà khai phá của trường phái lập thể sử dụng một vài lần và cuối cùng trở thành tên gọi chính thức.
Đặc điểm chủ nghĩa Lập thể
Đầu thế kỷ XX, các nhà họa sĩ muốn tìm kiếm một cách thể hiện thế giới tự nhiên bằng hình thức mới mẻ, không đi theo những lỗi cũ, từ bỏ hết các khái niệm truyền thống về hình khối và không gian phối cảnh, giúp lột tả những điều vượt lên trên vẻ bề ngoài của vật chất, với lý do đó chủ nghĩa Lập thể đã xuất hiện. Các họa sĩ Lập thể quan sát và thể hiện đối tượng bị phân chia thành nhiều mảng, dưới nhiều góc nhìn khác nhau trong cùng một thời điểm.
Lập thể phân tích
Picasso và Braque sát cạnh bên nhau để mở đường cho ý tưởng tiền lập thể vào những năm 1906-1909 sau đó là “chủ nghĩa lập thể phân tích” (1909-1912). Vào thời kỳ này, hội họa của họ là nhiều bề mặt gần như đơn sắc, những đường thẳng không hoàn thiện, những hình khối đan xen lẫn nhau.
Bức họa Les Demoiselles d’Avignon (Những cô nàng ở Avignon) của Picasso không được coi là lập thể nhưng nó lại được coi là cột mốc quan trọng để tiến đến trường phái lập thể. Trong tác phẩm này, lần đầu tiên Picasso thể hiện các hướng nhìn khác nhau cùng một lúc của vật thể ba chiều trên không gian hai chiều của bức tranh. Dựa trên ý tưởng này, Braque khai triển thêm nhiều khía cạnh khác và hai người này đã tạo ra trường phái lập thể.
Một số nhà sử học còn gọi giai đoạn này của chủ nghĩa lập thể là giai đoạn bí hiểm vì các công trình được vẽ theo lối đơn sắc và khó có thể hiểu được. Người họa sĩ chỉ để lại một chút dấu vết trên bức tranh để có thể nhận ra đối tượng của họ. Lúc này, chủ nghĩa lập thể rất gần với chủ nghĩa trừu tượng. Một số chữ cái cũng được đưa vào các bức tranh để làm đầu mối gợi ý ý nghĩa của các bức tranh.
Lập thể tổng hợp
Giai đoạn tiếp theo của lập thể phân tích là “lập thể tổng hợp”, bắt đầu vào năm 1912.
Trong lập thể tổng hợp, bố cục của bức tranh gồm các chi tiết chồng chất lên nhau, những chi tiết này được tô sơn hoặc được trát sơn lên nền vải, chúng có màu sắc sặc sỡ hơn. Không giống như lập thể phân tích (ở đó vật thể bị bẻ gãy làm nhiều mảnh), lập thể tổng hợp cố gắng kết hợp nhiều vật thể với nhau để tạo nên các hình khối mới.
Thời kỳ này còn đánh dấu sự ra đời của tranh dán và tranh dán giấy. Picasso đã phát minh ra tranh dán với bức tranh nổi tiếng của ông là Tĩnh vật với chiếc mây trong đó ông đã dán những miếng vải dầu lên một phần của chiếc ghế mây. Braque cũng lấy cảm hứng từ bức tranh này để tạo ra tác phẩm Đĩa hoa quả và cốc thủy tinh. Tranh dán giấy cũng gồm các vật liệu dùng để dán nhưng có điều khác là các mẩu giấy dán chính là các vật thể. Ví dụ, cốc thủy tinh trong bức tranh Đĩa hoa quả và cốc thủy tinh chính là một mẩu giấy báo được cắt thành hình chiếc cốc.
Trước đó Braque đã sử dụng chữ cái nhưng các tác phẩm của thời kỳ lập thể tổng hợp đã đưa ý tưởng này đến một tầm cao mới. Các chữ cái trước đây dùng để gợi ý cho chủ đề thì này chúng chính là chủ đề. Các mẩu giấy báo là các vật dụng được các họa sĩ dùng nhiều nhất. Họ còn đi xa hơn nữa là dùng giấy với hình khắc gỗ. Sau đó còn đưa thêm các mẩu quảng cáo trên báo vào tác phẩm của họ và điều này làm cho các công trình của các nhà lập thể có thêm phần màu sắc.
Họa sĩ tiêu biểu
Pablo Picasso (1881-1973)
Picasso là thủ lĩnh của phái Lập thể, trước khi tìm ra hội họa Lập thể, ông đã thử nghiệm sáng tác qua rất nhiều trường phái khác nhau. Các tác phẩm của ông thể hiện sự gai góc, dữ dội với các vấn đề nóng bỏng trong đời sống xã hội như chiến tranh, thân phận con người.

Tác phẩm “Những cô gái Avignon” năm 1907 đã chính thức đánh dấu sự xuất hiện của chủ nghĩa Lập thể. Trong tác phẩm này, lần đầu tiên Picasso xử lí hình khối theo lối phân tích chúng thành nhiều diện thô, mạnh và không theo bất cứ góc nhìn thông thường nào.
Georges Braque (1882-1963)
Georges Braque là một họa sĩ tự học nhưng thành danh rất sớm. Ông chính là người đã phát kiến ra kỹ thuật dán giấy, làm thành các bức tranh theo kiểu vẽ vân gỗ hay vân đá cẩm thạch trong nghệ thuật hiện đại. Và cuộc gặp gỡ với Picasso đã mang đến một bước ngoặt cho cuộc đời ông, hai vị họa sĩ đã cùng nhau tạo nên một chương mới cho hội họa thế kỷ XX và chính là cha đẻ của chủ nghĩa Lập thể.

Khác với Picasso, phong cách của Braque có sự thuần nhất. Trong các tác phẩm của Brauqe, người ta hầu hết chỉ thấy những mảng trầm tối màu nâu, vàng đất, nâu đỏ, xám…
Juan Gris (1887-1927)

Juan Gris tham gia phái lập thể vào năm 1911 với bút pháp nghiêm khắc nhưng không kém phần trữ tình. Juan Gris đơn giản hóa đối tượng thành những mảng lớn và dứt khoát với nhiều đường chéo, đường cung và tam giác. Lối vẽ Tổng hợp của ông cũng được phát triển theo lối đặc biệt khi đối tượng bị chia cắt đến mức mất đi hình thái riêng của mình trong từng cá thể và trở nên thống nhất trong tổng thể bố cục.
Fernand Leger (1881-1955)

Ông tham gia vào phái Lập thể từ 1911 thông qua triển lãm “Salon mùa thu” cùng năm. Hình khối của đối tượng, được ông tổ chức khéo léo thành hình trụ, hình côn nổi bật và có màu sắc thuần khiết. Tạo hình có thể to, thô và trái với tỉ lệ thông thường, nhưng lại khiến cho bức tranh tràn đầy nhựa sống và trẻ trung của thời đại công nghiệp mới.
(Nguồn:Tổng hợp)


















